1️⃣ TRƯỜNG HỢP CÓ DI CHÚC HỢP PHÁP
Nếu một bên qua đời và để lại di chúc hợp pháp định đoạt tài sản cho người được chỉ định, người đó VẪN ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ – bất kể có quan hệ hôn nhân hay huyết thống hay không.
Căn cứ pháp lý:
– Điều 624 BLDS 2015: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
– Khoản 1 Điều 626 BLDS 2015: Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế và phân định phần di sản – pháp luật không bắt buộc người được hưởng phải có quan hệ hôn nhân hay huyết thống.
2️⃣ TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ DI CHÚC – CHIA THEO PHÁP LUẬT
Khi không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, quyền thừa kế phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu chung sống.
Chung sống từ ngày 03/01/1987 trở đi → KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ với tư cách vợ/chồng.
Căn cứ pháp lý:
– Khoản 1 Điều 9 & Khoản 1 Điều 14 Luật HN&GĐ 2014: Chung sống không đăng ký kết hôn không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
– Điểm a Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015: Không được công nhận quan hệ vợ chồng nên không thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Chung sống trước ngày 03/01/1987 và đáp ứng điều kiện để được pháp luật công nhận là hôn nhân thực tế → Có thể được xác định là vợ chồng hợp pháp và được hưởng thừa kế theo pháp luật với tư cách hàng thừa kế thứ nhất.
Căn cứ pháp lý:
– Điểm a Khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10: Công nhận hôn nhân thực tế xác lập trước ngày 03/01/1987.
– Mục 1 TTLT 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP: Quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03/01/1987 chưa đăng ký kết hôn thì đương nhiên được công nhận là vợ chồng trên thực tế.
– Điểm a Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015: Được hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ nhất với tư cách vợ/chồng hợp pháp.
– Khoản 2 – Điều 44 Nghị định 123/2015/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định 18/2026/NĐ-CP). Điều này quy định rõ hơn: Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng.
Lưu ý khi thực hiện thủ tục công chứng đối với trường hợp hôn nhân thực tế
Việc pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân thực tế được xác lập trước ngày 03/01/1987 không đồng nghĩa với việc chỉ cần khách hàng trình bày hoặc cam kết đã chung sống trước thời điểm này là Văn phòng công chứng có thể xác nhận quan hệ vợ chồng.
Khi thực hiện các giao dịch có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của vợ chồng hoặc quyền thừa kế theo diện hôn nhân thực tế, công chứng viên sẽ kiểm tra, đối chiếu hồ sơ và các tài liệu chứng minh theo từng trường hợp cụ thể.
Tùy từng hồ sơ, khách hàng có thể được yêu cầu cung cấp các giấy tờ, tài liệu như:
- Giấy tờ, tài liệu thể hiện thời điểm bắt đầu chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987;
- Sổ hộ khẩu cũ, giấy đăng ký thường trú, giấy xác nhận cư trú hoặc các giấy tờ khác thể hiện quá trình sinh sống chung;
- Giấy khai sinh của các con (nếu có), trong đó thể hiện thông tin cha, mẹ;
- Hồ sơ, giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận liên quan đến quan hệ vợ chồng;
- Văn bản xác nhận hoặc tài liệu khác theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền (nếu pháp luật quy định hoặc cần thiết để làm rõ hồ sơ).
Việc có đủ căn cứ để xác định quan hệ hôn nhân thực tế hay không sẽ được công chứng viên xem xét trên cơ sở hồ sơ, tài liệu do khách hàng cung cấp và quy định của pháp luật, không chỉ căn cứ vào lời khai hoặc cam kết của các bên.
Lưu ý: Dù thuộc trường hợp nào, việc lập di chúc hợp pháp vẫn là giải pháp chủ động và an toàn nhất để bảo vệ quyền lợi cho người thân.
Quý Khách có nhu cầu tư vấn và lập di chúc đúng quy định? Liên hệ Văn phòng Công chứng Bùi Phơn để được hỗ trợ tận tình.
Bài viết được thực hiện: 13/08/2026


